chất làm sáng huỳnh quang
đặc tính hóa học
Dựa theo cấu trúc hóa học, chúng có thể được chia thành năm loại:
1. Loại stilbene: được sử dụng trong sản xuất sợi bông và một số loại sợi tổng hợp, sản xuất giấy, xà phòng và các ngành công nghiệp khác, có huỳnh quang màu xanh lam;
2. Loại coumarin: có cấu trúc cơ bản là coumarin, được sử dụng cho celluloid, nhựa PVC, có khả năng phát huỳnh quang màu xanh lam mạnh;
3. Loại pyrazoline: dùng cho len, polyamide, sợi acrylic và các loại sợi khác, có màu huỳnh quang xanh;
4. Loại benzoxy nitơ: được sử dụng cho sợi acrylic và polyvinyl clorua, polystyren và các loại nhựa khác, có huỳnh quang đỏ;
Loại benzoimide số 5 được sử dụng cho polyester, acrylic, nylon và các loại sợi khác, có khả năng phát huỳnh quang màu xanh lam.
Giới thiệu sản phẩm và các tính năng
Chất làm sáng huỳnh quang là một loại thuốc nhuộm huỳnh quang, hay còn gọi là thuốc nhuộm trắng, là thuật ngữ chung cho một nhóm các hợp chất. Đặc tính của nó là có thể kích thích ánh sáng chiếu vào để tạo ra hiện tượng huỳnh quang, khiến vật liệu bị nhiễm bẩn có hiệu ứng tương tự như ánh sáng lấp lánh của fluorit, nhờ đó mắt thường có thể thấy vật liệu đó rất trắng.
sử dụng
Lời giải thích lý thuyết đầu tiên về hiện tượng huỳnh quang xuất hiện vào năm 1852, khi Stokes đề xuất định luật mà sau này được biết đến với tên gọi Định luật Stokes. Năm 1921, Lagorio quan sát thấy năng lượng huỳnh quang nhìn thấy được phát ra từ các chất nhuộm huỳnh quang thấp hơn năng lượng ánh sáng nhìn thấy được mà chúng hấp thụ. Vì lý do này, ông suy luận rằng các chất nhuộm huỳnh quang có khả năng chuyển đổi ánh sáng cực tím vô hình thành huỳnh quang nhìn thấy được. Ông cũng phát hiện ra rằng độ trắng của sợi tự nhiên có thể được cải thiện bằng cách xử lý chúng bằng dung dịch nước của một chất huỳnh quang. Năm 1929, Krais đã sử dụng nguyên lý của Lagorio để chứng minh rằng sợi rayon màu vàng được ngâm trong dung dịch 6,7-dihydroxycoumarin glycosyl. Sau khi sấy khô, người ta thấy rằng độ trắng của sợi rayon đã được cải thiện đáng kể.
Sự phát triển nhanh chóng của các chất làm sáng huỳnh quang đã khiến một số người xếp chúng cùng với sự ra đời của thuốc nhuộm phản ứng và chất màu hữu cơ DPP là ba thành tựu lớn trong ngành công nghiệp thuốc nhuộm vào cuối thế kỷ 20.
Nhiều ngành công nghiệp đã bắt đầu sử dụng chất làm trắng huỳnh quang, chẳng hạn như giấy, nhựa, da, chất tẩy rửa. Đồng thời, trong nhiều lĩnh vực công nghệ cao cũng sử dụng chất làm trắng huỳnh quang, ví dụ như: phát hiện huỳnh quang, laser nhuộm, in chống giả, v.v., và thậm chí cả nhiếp ảnh trên cao với phim có độ nhạy cao để cải thiện độ nhạy của latex ảnh cũng sẽ sử dụng chất làm trắng huỳnh quang.
đóng gói và vận chuyển
B. Sản phẩm này có thể sử dụng được với trọng lượng 25KG, 200KG, 1000KG.
C. Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, kín hơi trong nhà. Sau mỗi lần sử dụng, cần đậy kín nắp hộp trước khi dùng.
D. Sản phẩm này cần được đóng kín kỹ trong quá trình vận chuyển để tránh hơi ẩm, kiềm mạnh và axit, mưa và các tạp chất khác xâm nhập.












